KỲ NA GIÁO (JAINISM)

“Nếu một người nào đó dùng một cây xiên để xiên ngang một ổ bánh có dầu để nướng trên bếp nhưng lại nghĩ [trong đầu] đấy là một con người, hoặc là người ấy xiên một quả bầu để nướng, nhưng lại nghĩ rằng đấy là một hài nhi, thì dưới mắt chúng tôi người ấy [nhất định] là một kẻ phạm tội, bởi vì hắn đã giết một chúng sinh. Nếu nói ngược lại thì nếu một người nào đó không phải là một người Đạo hạnh (Arya) xiên một người thật để nướng và nghĩ rằng đấy là một ổ bánh có dầu, hoặc xiên một hài nhi để nướng và nghĩ rằng đấy là một quả bầu, thì theo quan điểm của chúng tôi hắn không phải là một kẻ phạm tội vì hắn không hề giết một chúng sinh nào cả. Nếu một người nào đó không phải là người Đạo hạnh xiên một người hay một đứa bé bằng một cái xiên để nướng trên lửa bỏng mà nghĩ rằng đấy là một miếng bánh có dầu, thì đối với Phật giáo hắn không cần phải nhịn đói khổ sở mà làm gì”.

(Trích từ kinh Suyagada, 2.6, 26-28 của Kỳ Na giáo, theo bản dịch của học giả Catherine Golliau).


Biểu tượng của Kỳ Na giáo
(bàn tay tượng trưng cho sự trấn an tinh thần, lòng bàn tay
có ghi chữ bất bạo động)

SƠ LƯỢC VỀ KỲ NA GIÁO

Kỳ Na giáo là một trong những tôn giáo lâu đời nhất có nguồn gốc từ Ấn Độ, chính thức hình thành từ thế kỷ thứ VI TCN. Kỳ Na giáo có khoảng 4 triệu tín đồ và họ tin rằng mỗi cá nhân đều là thiêng liêng và có năng lực giác ngộ về Thượng đế. Kỳ Na giáo là lối đọc thành tiếng theo phiên âm Hán Việt danh xưng của đạo Giaina. Trong một số sách tiếng Việt đang lưu hành, thường để nguyên tên đạo Giaina hoặc là đạo Jaina. Theo tiếng Anh là Jainism; theo tiếng Pháp là Jainisme hay Djainisme. Trong bộ Kinh Trung Bộ của Phật giáo thì Kỳ Na giáo được gọi Nagantha: là Ly hệ phái.

Kỳ Na giáo là một tôn giáo có hệ tư tưởng ngoài hệ thống thánh điển Kinh Veda của Hindu giáo, mặc dù trong số những vị mở đường ấy có Rsabha, Agitanatha và Aritanemi; cả ba vị đều ở thời cổ đại và được đề cập tới trong kinh Yagur Veda. Nhưng học thuyết đó đã thoát thai và mang dáng dấp của nền Văn minh lưu vực Ấn Hà. Kỳ Na giáo phát triển như một hệ quả tất yếu bởi cái bóng quá lớn của Kinh Veda che khuất mọi ý tưởng tự do của con người: từ chủ trương tế lễ, mọi sinh hoạt đời sống và ngay cả tính thẩm quyền trong giáo lý của Veda. Vì vậy, sự thay đổi của họ với nhận thức phát triển, tư duy phóng khoảng của nền văn minh giúp họ tạo nên một lối đi mới là nhu cầu ắt có và đủ. Sự khai phóng của họ mang chút dáng vẻ những kẻ phiêu lưu trong lĩnh vực tư tưởng, chính bước đột phá đó đã được nhiều người ủng hộ với chủ trương bất bạo động mọi hình thức, sống trong kham nhẫn tuyệt đối trên cả hai phương diện lý thuyết và thực hành. Vì vậy khi phân tích thuật ngữ chúng ta sẽ thấy chữ Jainism có thành tố là “ji” có nghĩa là chinh phục được khát vọng, hay chinh phục những ràng buộc. “Jinacó nghĩa là người chinh phục đam mê bên trong: giận dữ, tham lam, dục lạc, chấp ngã,… Cho nên biểu tượng thành công của các vị Thánh là những con người bình thường đã dùng nhiều phương pháp tu tập để vượt qua khỏi sự ràng buộc của cuộc đời, khổ đau về thể xác và tinh thân, để đạt được giải thoát. Vị thánh đầu tiên là Rishabha truyền thừa đến 24 đời và vị cuối cùng được tôn kính nhất là Mahavira (Đại Hùng).

Kỳ Na giáo có đôi lần biến đổi mặc dù tín đồ đạo này tin rằng tín ngưỡng của họ là vĩnh hằng. Các tín đồ Kỳ Na giáo là những người tuân theo các Jina (người chinh phục tâm linh) là một trong nhiều vị dẫn dắt về tôn giáo; các Jina đã rũ mọi sự thế trần và đạt đến mức cao nhất của tri thức. Các bậc Jina, còn được gọi là Tirthankara, sẽ chỉ cho tín đồ phương cách giải thoát khỏi vòng luân hồi bằng việc đạt được Tam Bảo Ngọc là hiểu biết đúng, tâm niệm đúng và hành động đúng. Hành vi đúng là từ bỏ bạo động, tham lam, gian dối; sống khiết tịnh và giữ một số thệ nguyện.

Tirthankara

Tín đồ Kỳ Na giáo tin rằng thời gian là vô tận và bao gồm nhiều chu kỳ dài hàng triệu năm. Mỗi thời kỳ như thế có những giai đoạn thăng tiến và giai đoạn suy thoái (là giai đoạn đức tin và hành vi của con người ở mức tệ hại nhất). Trong giai đoạn suy thoái luôn xuất hiện một Tirthankara. Đây là bậc đại sư cứu độ, người đưa đường chỉ lối vượt qua đại dương luân hồi. Ngày sẽ chấn hưng tôn giáo, dạy dân chúng cách hành xử đúng để đạt sự giải thoát. Khi thuyết pháp, vị Tirthankara lập một samavasarana (vòng thuyết pháp). Tirthankara ngồi nơi chính giữa, các tín đồ tụ tập thành hình tròn quanh Tirthankara, lắng nghe và suy niệm lời dạy.

Kỳ Na giáo được cho là hình thành bởi Tirthankara Mahavira, Ngài được xem là một trong những người thầy vĩ đại nhất, có ảnh hưởng nhất trong Kỳ Na giáo mặc dù trước đó có tới 23 vị Tirthankara. Tuy nhiên, Kỳ Na giáo không phải tôn giáo do một người duy nhất sáng lập mà những giáo lý được giảng dạy, truyền bá bởi rất nhiều người đi trước và mỗi người bổ sung, dần hoàn thiện Kỳ Na giáo. Vị Tirthankara đầu tiên trong số đó là quốc vương Rishabha, người được biết như vị tu chứng Arihant hoặc Jina đã đặt cơ sở cho tôn giáo tương lai.

Án thờ thần Tirthankara

Tirthankara Parsva

Trong Nghi Quỹ Kinh còn gọi là Kiếp Ba Kinh của Kỳ Na giáo, có ghi chép về vị tổ sư thứ 23, sống vào khoảng thế kỷ thứ IX TCN, trước Mahavira khoảng 250 năm. Danh xưng của ông là Parsva và cũng quả thật là một nhân vật lịch sử. Thân phụ của Parsva là quốc vương xứ Benares. Thuở trẻ, Parsva từng là dũng sĩ, tham gia nhiều chiến trận. Sau ba chục năm sống tại gia, ông trở thành tu sĩ khổ hạnh lang thang suốt bảy chục năm. Ông hệ thống hoá lý thuyết trước đó của Kỳ Na giáo và đề ra bốn điều cấm: không sát sinh, không lừa đảo, không trộm cướp, và không có của riêng. Vị tổ đời thứ 23 này dùng màu xanh lam làm sắc hiệu, với biểu tượng là bảy con rắn quấn quanh đầu và ông ngồi trên mình rắn. Sách thánh của Kỳ Na giáo mô tả Parsva là “Vị Ðệ nhất”, “Ðấng Giác ngộ”, “Ðấng Toàn tri”, đồng thời quả quyết rằng trong các cuộc hành cước của ông từ Bihar tới Tay Bengal, có rất đông đảo tín đồ đi theo. Ðặc biệt, nơi Parsva nhập Niết Bàn và tịch tại núi Sammeta, trở thành thánh địa hành hương của giáo chúng xưa nay.

Tirthankara Mahavira

Vardhamana Mahavira là vị Tirthankara thứ 24 của chu kỳ thời gian gần đây nhất. Các tín đồ Kỳ Na giáo đưa ra thời điểm của Vardhamana Mahavira là từ năm 599 tới 527 TCN, có thuyết nói sinh năm 549 và mất năm 477 TCN. Ngài là hoàng tử một vương quốc nhỏ tên là Kundagrama (thuộc bang Bihar của Ấn Độ hiện nay). Thân phụ của ông tên là Sĩ Đạt Ta (Siddharta) là vị vua cai trị vương quốc này. Mahavira khi mới sinh mang tên là Vardhamana cũng giống như tên của Đức Phật khi mới sinh, Ngài được nuôi nấng trong cảnh xa hoa và được giáo dục để sau này nắm giữ quyền bính. Gia tộc của Ngài thuộc vào giai cấp kshatriya, tức là giai cấp lãnh đạo trong xã hội.

Kinh sách Kỳ Na giáo thuật lại Vardhamana Mahavira là một người có tài năng, trí thông minh phi thường và lòng dũng cảm. Năm mười ba tuổi Ngài có con, nhưng khi 28 tuổi, Ngài từ bỏ cuộc sống nhung lụa để tu hành khổ hạnh và tìm phương cách giải thoát khỏi vòng luân hồi. Sau một thời gian ngắn sống chung với các vị khổ hạnh Ngài quyết định cởi bỏ hết quần áo và tuyên bố nhất định chỉ cần khoác lên người “quần áo của không gian” là đủ, và cứ như thế Ngài thản nhiên du hành khắp nơi. Lúc 42 tuổi, Vardhamana Mahavira đốn ngộ khi thiền định dưới một gốc cây, Ngài đạt được sự thật tối thượng và tự giải thoát cho mình khỏi mọi sự trói buộc của nghiệp (karma) và thế giới luân hồi (samsara) và trở thành một vị “Jina”, có nghĩa là vị "Chiến thắng”.

Vardhamana Mahavira truyền bá đường lối bất bạo động, thuyết bình đẳng tâm linh và tổ chức những tín đồ vào bốn chúng: Tăng (Sadhu), Ni (Sadhvi), Cận Sự Nam (Shravak) và Cận Sự Nữ (Shravika). Ở tuổi 72, Mahavira rời khỏi thân xác và đạt sự giải thoát hoàn toàn.

Vào đêm Ngài trở thành Siddha (người hoan hỉ), tâm thanh tịnh, linh hồn giải thoát, sống trong trạng thái an lạc hoàn toàn, tín đồ kỷ niện một ngày hội Ánh Sáng (Dipavali) để tôn vinh Ngài. Văn bản quan trọng nhất về kinh chính lễ của Kỳ Na giáo (Giai Na giáo) gồm 45 quyển, được gán do chính Mahavira sáng tác. Sự suy thoái của Kỳ Na giáo bắt đầu từ thế kỷ đầu tiên SCN. Tín đồ Kỳ Na giáo mất sự ảnh hưởng, ồ ạt đi theo Ấn Đồ giáo và đến thời kỳ Hồi giáo xâm chiếm Kỳ Na giáo hoàn toàn mất địa vị.

SỰ PHÂN PHÁI CỦA KỲ NA GIÁO

Thế kỷ 6 TCN, sự phân phái của Kỳ Na giáo bắt đầu xuất hiện trong thời kỳ của bậc Vardhamana Mahavira lúc còn tại thế. Sự phân phái lần đầu do quan niệm bất đồng giữa con rể Jamali của Mahavira và Mahavira. Mahavira cho rằng những công việc đang làm tức là đã làm, Jamali cho rằng công việc đang làm là chưa làm, làm xong rồi mới gọi là làm.

Tại thành Vương Xá (Rajagriha) sự phân phái lần hai do Tissagutta cầm đầu, phản đối quan điểm linh hồn bị các vật chất nhỏ bé lọt vào.

Sau khi Mahavira qua đời, năm 214 sự phân hóa lần ba diễn ra do Asadha cầm đầu, cho rằng linh hồn của thần, thánh, quốc vương, và dân thường không có gì khác nhau.

Năm 220, sự phân hóa lần tư do Assamitta cầm đầu diễn ra, Assamitta cho rằng vận mệnh con người với hành vi thiện ác không có liên quan.

Năm 228, sự phân hóa lần năm do Ganga cầm đầu, Ganga cho rằng con người có thể đồng thời cảm giác được hai loại sự vật tương phản, như lạnh và nóng.

Năm 547, sự phân hóa lần sáu do Sadulaya cầm đầu, Sadulaya cho rằng giữa mệnh và phi mệnh còn tồn tại trạng thái thứ ba là vô mệnh

Năm 584, sự phân hóa lần bảy do Gotthamahila cầm đầu, Gotthamahila cho rằng linh hồn không thể bị nghiệp trói buộc.

Lần phân hóa thứ tám, chia làm hai phái: phái Shvetambara (Bạch Y) và phái Digambara (Lõa Thể). Phái Diagambara bám giữ thái độ trung thành với Kỳ Na giáo nguyên thủy, đưa ra sách kinh thực cổ của Rishabha. Phái Diagambara quan niệm rằng tu sĩ phải khước từ tất cả những gì gọi là của cải, kể cả quần áo. Họ tin rằng việc giặt quần áo làm cho họ phạm vào giới luật bất tổn sinh. Tu sĩ của phái Diagambara hoàn toàn lõa thể. Họ chỉ cần một nhánh lông công để xua côn trùng ra khỏi đường đi của họ để những sinh vật này không bị tổn hại.

Phái Shvetambara thừa nhận kinh kính lễ của Mahavira, những người tín đồ thì có thể mặc nhiều màu sắc khác nhau. Khi mộ người trở thành tu sĩ phái Shvetambara, họ nhận ba miếng vải để quấn người, một chiếc gậy, một tô để nhận thức ăn khất thực và một chiếc cọ bằng len (để xua côn trùng trên đường đi). Giống như tu sĩ phái Diagambara, những tu sĩ phái Shvetambara cũng khất thực. Suốt 8 tháng trong năm, tu sĩ phái Shvetambara rong ruổi khắp thôn làng, viến các đền thờ và nơi hành hương. Vào mùa mưa, họ giảng dạy và thăm bậc lãnh đạo của họ. Phụ nữ cũng có thể trở thành tu sĩ phái Shvetambara. Phái Shvetambara chủ trương 14 điểm trong đó có 11 điểm quan trọng:

1. Vị giác giả cần ăn uống và bài tiết

2. Phụ nữ và nam giới đều có thể được cứu vớt

3. Thủ Đà La (Sudra) thấp hèn và đẳng cấp cao đều được cứu vớt

4. Một người mặc quần áo cũng được cứu vớt

5. Chủ nhân trong gia đình được cứu vớt

6. Cho phép thờ tranh tượng sư tổ mặc áo và trang sức

7. Người xuất gia được dùng 14 loại nhu yếu phẩm

8. Malidana vị tổ thứ 19 là một phụ nữ

9. Thánh điển nguyên thuỷ vẩn tồn tại là chân truyền

10. Cho phép người xuất gia ăn nhận thức ăn từ người Thủ Đà La

11. Đại Hùng trước khi xuất gia đã kết hôn và đã sanh ra một người con gái.

LUẬN THUYẾT CỦA KỲ NA GIÁO

Kỳ Na giáo đề xướng “Thuyết Thất Đế” tức là: mệnh, phi mệnh, lậu nhập (nghiệp), trói buộc, chế ngự, tĩnh tâm và giải thoát. Mệnh và phi mệnh là linh hồn và phi linh hồn. Kỳ Na giáo cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều do linh hồn và phi linh hồn. Linh hồn có hai loại: Vật chất trói buộc và vật chất không trói buộc. Linh hồn bị vật chất trói buộc có hai loại: động và bất động. Linh hồn bị vật chất trói buộc thuộc động thì thể hiện các mức độ khác nhau thông qua cơ quan cảm giác có 6 loại: người, thú, ong, kiến, trùng và thực vật. Linh hồn bị vật chất trói buộc bất động tồn tại trong bốn đại nguyên tố: địa, thủy, phong, hỏa. Linh hồn không bị vật chất trói buộc thì vĩnh hằng, tự do, là mục đích cuối cùng của sự tu tập. Phi linh hồn gồm hai loại: vật chất định hình và vật chất không định hình. Vật chất định hình do cực vi (còn gọi là nguyên tử) và thể hợp thức cực vi cấu thành. Cực vi được coi là thực thể vĩnh hằng, không thể chia cắt, tồn tại trong không gian có tính chất độc lập (như lạnh và nóng, khô và ướt). Thể hợp thức cực vi có thể chia cắt, có những cấu trúc khác nhau, tổ chức nhiều loại hình thái vật chất trên thế giới. Vật chất không định hình bao gồm thời gian và không gian, pháp và phi pháp.

Đạo Kỳ Na rơi vào trạng thái hỗn độn nguyên thủy, coi vật chất và tinh thần là những thực thể, còn cho rằng hết thảy mọi vật chất đếu có linh hồn và con người không nên phương hại đến vạn vật. Kỳ Na giáo còn cho rằng “nghiệp” (karma) cũng là vật chất đặc thù, bé nhỏ tinh vi không thể nhìn thấy. Nghiệp nương tựa vào linh hồn con người trở thành vật cản sự giải thoát. Sự nương tựa này gọi là “lậu nhập”. “Nghiệp” căn cứ vào tính bất động có thể chia làm 8 loại: Ngu nghiệp Mohaniya (cái che đậy trí tuệ), Bất kiến nghiệp Jnana varaniya (cái che lấp chính kiến), Thụ nghiệp Darasna varaniya (cái sinh ra khổ sướng), Si nghiệp Antaraya (cái che đậy chánh tín), Thọ nghiệp Ayu (cái quyết định sự dài ngắn sinh mệnh), Danh nghiệp Nama (cái quyết định đặc tính của cá nhân), Chủng nghiệp Gotra (cái quyết định đẳng cấp, quốc tịch), Giá nghiệp Vedniya (cái quyết định tính lực khổ lạc). Kỳ Na giáo cho rằng 8 loại nghiệp này đã định sẳn trước khi sinh ra linh hồn là tế thân, gắn vào người (lậu nhập), lưu chuyển theo linh hồn gọi là trói buộc.

Trong kinh tông “Phương Tiện Tâm Luận” có viết Ngũ trí, Lục chướng, Tứ trọc. Lục chướng: một là chướng không nhìn thấy, hai là chướng chịu khổ, ba là chướng ngu si, bốn là chướng mệnh, năm là chướng tính (dòng họ), sáu là chướng danh; Tứ trọc: sân, mạn, tham và xiểm (nịnh bợ). Kỳ Na giáo xem “nghiệp” là sự trói buộc của linh hồn, mục đích cuối cùng nhằm giải thoát khỏi Lục chướng, Tứ trọc. Con đường của chế ngự và tĩnh tâm dựa trên Ngũ trí: văn trí, tu trí, tự trí, tuệ trí và nghĩa trí. Quan điểm Kỳ Na giáo cho rằng trừ được túc nghiệp, không tạo nghiệp mới, thì mọi khổ cũng đều hết. Do đó tu khổ hành và cấm dục là phương pháp tốt nhất đạt tới cảnh giới giải thoát của Niết Bàn.

Kỳ Na giáo đề ra những nguyên tắc và những quy định có khả năng giúp con người đạt tới lý tưởng tôn giáo, tìm kiếm con đường giải thoát thông qua bốn yếu tố:

+ Nhận thức hoàn hảo (Anant darshana): Nhìn nhận thế giới phù hợp với học thuyết Mahāvīra tin tưởng vào tính chân thật tuyệt đối.

+ Tri thức hoàn hảo (Anant jnana): Nhận thức học thuyết, bản chất của linh hồn và của thế giới.

+ Nghị lực hoàn hảo (Anant virya): Khắc phục khát vọng và tuân thủ quy tắc tôn giáo.

+ Hạnh phúc hoàn hảo (Anant-sukha): Trạng thái an lạc tối cao

Thông qua Thuyết cực vi (hoặc gọi là Nguyên tử luận) của Kỳ Na giáo, vật chất được cấu thành từ những hạt nguyên tử, các hạt nguyên tử này tự vận động cấu thành phân tử, tạo nên nhiều hình thái khác nhau của vạn vật trong vũ trụ. Thuyết này được coi như hình hài ban đầu của nguyên tử luận hiện đại, gần giống như Nguyên tử luận của Hy Lạp và Thuyết ngũ hành thời của Trung Quốc. Do vậy, Kỳ Na giáo không tin tưởng vào thần linh như là đấng sáng tạo, đấng tồn tại, đấng hủy diệt của vũ trụ. Khi mỗi người phá hủy tất cả nghiệp karmas, thì họ chính là đấng sáng suốt, đấng toàn năng.

Kỳ Na giáo còn có một lý luận quan trọng là Hoặc Nhiên Luận (Syatvada) còn gọi “Phi quyết đoán luận”, “Phi nhất đoan thuyết” hoặc “Thất chi luận pháp”. Đây là dạng lập luận phán đoán, có vị trí nhất định trong Nhân Minh học sử (Lịch sử logic Ấn Độ). Sự vật khách quan không có tính chất vĩnh hằng bất biến, bất cứ vật nào cũng có quá trình sanh, trụ, dị, diệt. Do vậy, bất kỳ một phán đoán nào, của bất kỳ sự vật nào đều có điều kiện, không có sự khẳng định hoặc phủ định tuyệt đối. Đó là hình thức lập luận: (1) Có, (2) không, (3) vừa có vừa không, (4) không thể nói (không có không không), (5) Có, không thể nói, (6) Không không thể nói, (7) vừa có vừa không không thể nói. Tương truyền phương pháp luận này xuất hiện từ rất sớm, sau khi Mahavira qua đời 150 năm, do đệ tử của ông là Badaropa đề xuất. Về sau nó được hoàn thiện và phát triển thêm.

Kỳ Na giáo nhìn vũ trụ không có sự bắt đầu và không có chung cuộc. Nó bao gồm: Thượng giới: Nơi bậc tu chứng và bậc giải thoát an trú; Thiên giới: 30 tầng trời nơi chúng sanh tu hành an trú; Trung giới (Nhân giới) trái đất: trí thức siêu nhiên của cuộc đời, Chân trí = Toàn trí; Hạ giới (7 tầng bậc) chứa đựng 84 ngàn cảnh giới địa ngục khác nhau.

CUỘC SỐNG TÍN ĐỒ KỲ NA GIÁO

Tín đồ Kỳ Na giáo luôn mang ước vọng là khi từ giả cuộc sống này sẽ được đầu thai vào một kiếp khác tốt đẹp hơn, hoặc hay hơn hết là thoát khỏi vòng luân hồi. Nhiều tín đồ tâm niệm rằng để đạt được như vậy họ phải trở thành tu sĩ. Một số tín đồ khác nghĩ rằng chỉ cần noi theo cách sống khắc khổ, đạo hạnh của tu sĩ Kỳ Na giáo cũng có thể đạt được ườc vọng trên. Cụ thể là tín đồ nên tránh bạo động, không theo một số ngành nghề như buôn bán hoặc ngân hàng mà họ cho là có thể gây hại nhân sinh. Các tín đồ bình thường vẫn giúp đỡ tu sĩ bằng cách cho họ thức ăn, nước uống và mọi vật dụng mà giới luật quy định mọi tu sĩ được phép nhận.

Tam Bảo Ngọc

Tín đồ Kỳ Na giáo khởi đầu cuộc hành trình tìm sự cứu rỗi bằng cách đạt tm bảo ngọc (ba điều quí giá), đó là: hiểu biết đúng, tâm niệm đúng và hành xử đúng. Sự hiểu biết đúng xuất phát từ việc học hỏi giáo lý đạo Kỳ Na. Tâm niệm đúng là hệ quả của lòng tin vào giáo lý. Hành xử đúng là tuân theo giới luật của Kỳ Na giáo, bao gồm những lời thề nguyện mà tín đồ và tu sĩ đều phải tuyên thệ.

Năm đại nguyện

Tu sĩ nam nữ Kỳ Na giáo phải tuân giữ nhiều thề nguyện trong đời sống tu hành của họ. Năm thề nguyện đầu tiên và quan trọng nhất là ahimsa (không bạo động), satya ( nói lời chân thật), asteya (không trộm cắp hoặc lấy điều gì chưa được phép), brahmacharya (khiết tịnh) và aparigraha ( không sở hữu tài sản). Sau này có thêm điều thứ sáu là không ăn sau khi trời tối.

Thiền định Samayika

Tín đồ Kỳ Na giáo mỗi ngày dành ra 48 phút (1/30 của ngày đêm) để thiền định theo cách tu thiền Samayika. Sự thiền định này bắt đầu bằng kinh xin tha thứ. Mục đích của thiền định là tìm sự bình yên trong tâm hồn để tập trung vào những lời dạy của giáo lý. Nghi thức thiền định bao gồm kinh cầu nguyện cho thân hữu giữa mọi sinh linh, niềm hân hoan sống đạo hạnh và sinh sua tan mọi khổ đau của chúng sinh.

Hành hương

Tại Ấn Độ có nhiều nơi rất linh thiêng đối với tín đồ Kỳ Na giáo như núi Abu ở Rjasthan, núi Ginar ở Saurasthra và Shatrunjaya ở Gujarat. Những nơi linh thiêng này thường được gắn liền với các Tirthankara hoặc Đấng Tối Cao khác. Một số nơi ghi dấu chỗ các vị này đạt được sự giải thoát khỏi vòng luân hồi. Tín đồ Kỳ Na giáo thường hành hương đến những đền thờ và đài tưởng niệm tại các nơi linh thiêng này.

Tiểu nguyện (auvratas)

Tín đồ thường không nhất thiết phải sống đời khổ hạnh như các tu sĩ, nhưnghọ cũng phải tuân theo một số tiểu nguyện như ăn chay, thật thà, trung thành trong hôn nhân, không quá ham mê của cải vật chất và tránh làm tổn hại sinh thể (ahimsa) khi làm việc của mình bằng cách chỉ làm theo ngành nghề mà tôn giáo chấp thuận.

Sallekhana

Sallekhana là hành vi tuyệt thực theo nghi lễ dưới sự chứng giám của một đạo sư. Sallekhana được xem là cách lìa trần lý tưởng nhất của tín đồ Kỳ Na giáo mộ đạo, chứng tỏ tín đồ này không còn màng chi đến mọi sự trần thế, tự nguyện từ dã cõi đời không chút vương vấn. Những tín đồ Kỳ Na giáo hiện nay rất ít khi thực hành Sallekhana

SỰ THỜ PHỤNG

Tín đồ Kỳ Na giáo có thể thờ phụng tại nhà hoặc đền thờ. Mục đích chính của sự thờ phụng là tập trung ý niệm trước tượng của một trong những Tirthankara nhằm tìm sự biến chuyển tâm linh và theo gương Tirthankara vươn tới chốn giải thoát khỏi vòng luân hồi. Nhiều tín đồ Kỳ Na giáo không tin vào ảnh tượng nên thờ phụng nơi căn phòng bình thường, không bày biện bàn thờ.

Đền thờ

Đền thờ Kỳ Na giáo có thiết kế tương tự đền thờ Hindu giáo, gồm gian trung tâm, một tháp cao phía trên, các phòng kế cận gian trung tâm và đại sảnh. Giữa đền là điện thờ, nơi đặt tượng của vị Tirthankara mà đền thờ này cung hiến. Đền thờ được trang hoàn rất đẹp nhằm thể hiện nơi ngự của các Tirthankara trên thiên cung.

Kinh Panca Namaskara

Khi tiến đến gần tượng Tirthankara, tín đồ phải đọc kinh này. Lời kinh diễn tả sự tôn kính năm Đấng Tối Cao. Đọc kinh xong, tín đồ mới cử hành việc thờ phụng. Tín đồ Kỳ Na giáo tôn kính 5 vị tối cao tiêu biểu cho đời sống đạo hạnh mà họ mong đạt được. Những tín đồ mộ đạo thực thi nghi thức hằng ngày, cung kính trước 4 vị thế trên siddhachakra (tất đạt luân xa).

Tất Đạt Luân Xa

Arhat (La Hán) là vị tối cao thứ nhất được tôn kính như Tirthankara hoặc Jina (đại sư), là người đặt nền tản cho sự giải thoát tha nhân. Hình tượng Arhat đặt ở trung tâm siddhachakra.

Vị tối cao thứ nhì là siddha (tất đạt), là linh hồn đạt được giải thoát nhờ sự hướng dẫn của đại sư và đang sống trong cõi phúc nơi đỉnh cao của vũ trụ.

Những bậc lãnh đạo tinh thần cho tu sĩ là các acharya, vị tối cao thứ ba. Hình tượng của acharya đặt ở góc đông của siddhachakra.

Vị tối cao thứ tư là upadhyaya, thầy giảng kinh Kỳ Na cho các tu sĩ nam, nữ khác. Hình tượng của upadhyaya đặt ở hướng nam của siddhachakra.

Tu sĩ Kỳ Na là bậc thứ năm các Đấng Tối Cao. Ảnh tượng của Đấng Tối Cao này được đặt ở hướng Tây của siddhachakra. Riêng tông phái Digambara tin là chỉ có nam giới mới đạt được sự giải thoát khỏi vòng luân hồi.

Đấng Bahubali

Bahubali là hoàng thân và là một chiến binh. Bahubali đánh thắng người em cùng cha khác mẹ nhưng không xử tử vị này, mặc dù người em luôn hăm dọa sẽ sát hại Bahubali. Rốt cuộc, Bahubali từ bỏ mọi của cải và sống đời suy niệm, thiền định. Tông phái Digambara tin rằng Bahubali là người đầu tiên thời này đạt được sự giải thoát. Tại đền Shravana Belgola ở miền Nam Ấn Độ có tượng Bahubali rất lớn. Cứ 12 năm một lần đền này là nơi hành hương và tổ chức lễ thờ cúng Bahubali.

Tượng Bahubali

Puja

Puja là nghi thức xức dầu và trang trí cho tượng của vị Tirthankara. Trước tiên, tín đồ lau tượng bằng nước, sữa tươi và 5 loại mật lấy từ hoa và trái cây. Kế đó, họ tô màu vàng nghệ lên 14 chỗ trên bức tượng, rồi trang điểm tượng bằng hoa và đá quí. Sau cùng, các tín đồ hát lời ngợi ca vị Tirthankara và dâng cúng lễ vật.

Điện thờ tại gia

Điện thờ lập tại nhà là cách để tín đồ thờ phụng và giữ đạo Kỳ Na trong giai đoạn giáo phái bị bách hại và việc xây đền thờ bị cấm. Tuy nhiên, hiện nay điện thờ tại gia là hình ảnh thường gặp. Điện thờ là gian nhà gỗ, được bày biện các tượng chạm khắc các thần linh nam và nữ. Điện thờ tại gia giống như phiên bản thu nhỏ của điện thờ bằng đá ở trung tâm của đền thờ Kỳ Na giáo. Những tín đồ Kỳ Na giáo mộ đạo cử hành lễ thờ phụng ở điện thờ tại gia mỗi ngày. Nam nhân mặc áo quầm sạch sẽ, không đan thêu.

Tám chất liệu

Gian trung tâm của đền thờ Kỳ Na giáo còn bày biện tám chất liệu biểu tượng cho con đường tâm linh tiến về nơi giải thoát khỏi vòng luân hồi. Đó là: nước, trầm hương, hoa, nhang, nến, gạo, chất ngọt và trái cây. Tám thứ này được để lại đền làm của dâng cúng khi cử hành thờ phụng hoặc nghi thức Puja.

CÁC THẦN LINH

Có nhiều tranh cãi cho rằng Kỳ Na giáo là loại tôn giáo vô thần bởi không thừa nhận sự tồn tại của thần tạo tác, thần tối cao hoặc của những thế lực siệu nhiên như thượng đế, như thánh Ala hay Trimurti. Song Kỳ Na giáo thừa nhận những thực thể thiêng liêng hoàn hảo mà những thực thể này thực chất chính là sự phát triển hoàn thiện nhất của tất cả các loài. Bởi Kỳ Na giáo cho rằng bản thân tất cả các linh hồn đều thiêng liêng và đều có khả năng đạt được cảnh giới tối cao. Mục đích lớn nhất của Kỳ Na giáo, cũng giống như các tôn giáo khác đó chính là giải thoát con người khỏi những khổ đau. Và bằng việc tuyệt đối tuân theo Ahimsa, con người sẽ thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, đạt được sự tự do và niềm hạnh phúc tối cao. Đó cũng là điều mà các Tirthankara muốn truyền dạy cho các đệ tử của mình.

Những tín đồ Kỳ Na giáo chỉ thờ kính một số thần linh gắn liền với vị Tirthankara. Tín đồ thường cầu khấn các thần này phù hộ mỗi khi gặp khốn khó trên đường đời. So với Tirthankara và siddha những thần linh nam nữ này ở vị thế phụ nên tượng của họ thường đặt ở các gian bên ngoài của đền thờ. Nữ thần mẫu thân Ambika là vị thần được thờ kính nhất vì tín đồ tin rằng Ambika là thần của sự phồn vinh và sing đẻ.

Thần Ambika

LỄ HỘI

Các lễ hội của Kỳ Na giáo thường diễn ra trong một ngày, trừ lễ hội quan trọng nhất là Paryusana kéo dài 8 ngày. Đây là dịp cử hành nhiều nghi lễ đặc biệt, ăn chay và sau đó là tiệc vui và nghi thức xưng tội. Tín đồ Kỳ Na giáo cũng ăn chay vào những ngày rằm.

Paryusana

Lễ hội Paryusana tổ chức vào cuối năm theo lịch của Kỳ Na giáo (khoảng tháng 8 dương lịch hiện hành). Suốt thời gian lễ hội, tín đố Kỳ Na giáo bình thường sẽ cố gắng sống như tu sĩ. Tín đồ xưng tội, cố gắng hòa giải với người thù nghịch và họ hàng, ăn chay. Vào ngày cuối của lễ hội, mọi người ăn chay chung và dự lễ xưng tội tại nhà thờ.

Kartika Purnima

Lễ hội Kartika Purnima đánh dấu kết thúc mùa mưa, là thời điểm các tu sĩ nam nữ Kỳ Na giáo trở lại cuộc sống rong ruổi. Kartika Purnima gồm có Car Festival, là lễ kiệu chiếc xe bằng gỗ trên có tượng của một Jina đi khắp mọi đường phố.

Vira Nirvana

Lễ hội Vira Nirvana tổ chức vào tháng 11 (dương lịch hiện hành), tưởng nhớ ngày đại sư Mahavira từ trần và nhập niết bàn. Trong ngày lễ này, tín đồ Kỳ Na giáo ăn chay và dự nghi lễ đặc biệt tại đền thờ. Lễ hội Vira Nirvana trùng ngày với lễ Diwali của Hindu giáo.

Mahavira Jayanti

Đa số lễ hội Kỳ Na giáo đều được tổ chức để tưởng nhớ các sự kiện chính trong đời của những Tirthankara. Sự ra đời của đại sư Mahavira được kỷ niệm trong lễ hội Mahavira Jayanti. Tại lễ hội, một cặp vợ chồng giàu có đóng vai trò thần thời tiết Indra và nữ thần thiên cung Indrani. Họ sẽ dâng cúng nhiều lễ vật cho đền thờ. Tượng của Mahavira được xông hương và rắc hoa. Tiểu sử của Mahavira được đọc cho mọi tín đồ dự lễ trong đền thờ. Sau đó, mọi người về nhà dùng bữa thịnh soạn.

Views: 537

Comment

You need to be a member of GocRieng.NET to add comments!

Join GocRieng.NET

Liên Lạc

Liên Hệ Quảng Cáo:

gocrieng9@gmail.com

Web Hay

© 2014   Created by Nam.

Badges  |  Report an Issue  |  Terms of Service